Hiển thị các bài đăng có nhãn Kế toán. Hiển thị tất cả bài đăng

21 tháng 1, 2015

Ebook thông tư 200/2014/TT-BTC 22/12/2014 Hướng dẫn Chế độ Kế toán Doanh nghiệp

Ebook được thực hiện nhằm giúp các bạn đang công tác trong lĩnh vực kế toán có thể tra cứu nhanh khi thực hiện công tác kế toán tại đơn vị:

Ebook thông tư 200/2014/TT-BTC 22/12/2014 Hướng dẫn Chế độ Kế toán Doanh nghiệp

1. Tra cứu nhanh phương pháp kế toán tương ứng với từng tài khoản
2. Hệ thống báo cáo tài chính và cách thực hiện
3. Cung cấp hệ thống mục lục giúp tra cứu nhanh.
Ebook Chế độ kế toán doanh nghiệp theo Thông tư 200/2014/TT-BTC ngày 22/12/2014

Hệ thống mục lục của Ebook Chế độ kế toán doanh nghiệp theo Thông tư 200/2014/TT-BTC ngày 22/12/2014

Tải File tại đây : http://goo.gl/UafAAE
Không có nhận xét nào
Tags:

29 tháng 7, 2014

H2-Account - phần mềm kế toán Excel miễn phí

H2-ACCOUNT LÀ PHẦN MỀM KẾ TOÁN MIỄN PHÍ

 

Giới thiệu

H2-Account là phần mềm kế toán miễn phí được phát triển trên nền tảng Excel (Thuộc bộ sản phẩm Office của tập đoàn Microsoft). Phần mềm cho phép bạn thực hiện các công nghiệp ghi chép quản lý số liệu thuộc lĩnh vực kế toán doanh nghiệp tại Việt Nam.

Ngay từ khi mới ra đời vào thán 5 năm 2013. H2-Account đã được cộng đồng đánh giá cao về giao diện thân thiện, dễ sử dụng cùng khả năng tùy biến cho từng công ty. Trải qua quá trình phát triển, hiện nay phần mềm đã được nâng cấp, hoàn thiện cùng với sức mạnh của ngôn ngữ lập trình VBA được tích hợp sẵn đã thực sự mang đến một trải nghiệm mới cho việc làm kế toán trên excel vốn từ lâu đã được coi là khá thủ công và mất thời gian.

Giao diện & Menu H2-ACCOUNT


NHỮNG TÍNH NĂNG CHÍNH CỦA PHẦN MỀM KẾ TOÁN MIỄN PHÍ H2-ACCOUNT

1) Tự động phát hiện, thông báo và cập nhật phiên bản mới
- Tính năng cao cấp thường chỉ thấy trên các phần mềm kế toán trả phí nhưng vẫn có trên H2-Account. Điều này giúp các bạn hoàn toàn có thể yên tâm khi sử dụng. Mọi vấn đề lỗi phát sinh, hay những điều chỉnh của pháp luật sẽ được cập nhật vào phần mềm một cách nhanh nhất, tự động và chính xác

2) Cho phép lựa chọn quyết định sử dụng trên một một file
- Người dùng có thể lựa chọn quyết định kế toán mà doanh nghiệp mình đang sử dụng bao gồm: Quyết định 48 và Quyết định 15. Thao tác chuyển đổi quyết định rất đơn giản, chỉ với một vài click là các bạn có thể chuyển đổi quyết định đang sử dụng

3) Tự động luân chuyển sổ sách, chứng từ, báo cáo tài chính
- Chỉ cần nhập liệu tại sheet Phát Sinh, mọi số liệu sẽ được tổng hợp qua các sổ sách như: Sổ cái, Sổ Nhật Kí Chung, Sổ Tiền Gửi, Sổ Nhật Kí…Các chứng từ như Phiếu thu chi, phiếu kế toán…Bộ báo cáo tài chính gồm có: Bảng cân đối phát sinh, bảng cân đối kế toán, báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh, Lưu chuyển tiền tệ…

4) Phân bổ chi phí trả trước, khấu hao tài sản thông minh linh hoạt
- Tuân thủ theo đúng các quy định của pháp luật, phần mềm kế toán H2-Account thực hiện việc phân bổ chi phí trả trước 142, 242 một cách linh hoạt, khấu hao tài sản cố định được tùy chọn khấu hao theo tháng hoặc khấu hao theo ngày.

Dễ dàng theo dõi CCDC, TSCĐ

5) Tính năng thay đổi, đánh số chứng từ hàng loạt
- Trong quá trình nhập liệu, người kế toán sẽ không tránh khỏi những sai sót như nhập thiếu, thừa và việc sửa chữa một số phiếu thu hoặc phiếu chi sẽ kéo theo việc phải chỉnh sửa hàng loạt những chứng từ khác gây mất thời gian và tâm lý căng thẳng. Sử dụng H2-Account bạn sẽ loại bỏ hoàn toàn được công việc nhàm chán này !

6) In chứng từ hàng loạt
- Phục vụ cho công tác kiểm tra, đối chiếu số liệu, phần mềm kế toán miễn phí H2-Account hỗ trợ người dùng in chứng từ hàng loạt bao gồm: Phiếu thu chi, phiếu kế toán, phiếu nhập, xuất kho

7) Tự động cảnh bảo không cân số liệu
Tính năng này giúp người kế toán kiểm soát được quá trình nhập liệu của mình, giúp nhanh chóng phát hiện và sửa chữa những lỗi nghiệp vụ khiến cho bảng cân đối kế toán không cân. Việc này có ý nghĩa rất quan trọng vì tạo điều kiện thuận lợi cho việc hoàn thiện báo cáo tài chính cũng như đảm bảo tính hợp lý, cân đối của sổ sách

8) Tự động loại bỏ dòng trống tại các sổ sách
Sử dụng các phần mềm kế toán excel khác, kế toán sẽ liên tục phải thực hiện thao tác Filter để loại bỏ dòng trống, tuy nhiên với H2-Account mọi thứ đã hoàn toàn tự động giúp quan sát đối chiếu, kiểm tra số liệu được nhanh chóng và thuận tiện hơn

9) Tùy chọn ngôn ngữ sử dụng là tiếng Việt hoặc tiếng Anh
Là phần mềm kế toán miễn phí nhưng H2-Account sở hữu những tính năng nổi bật trong đó phải kể đến việc trợ giúp người dùng lựa chọn ngôn ngữ sử dụng. Đối với những kế toán làm việc cho công ty có người nước ngoài, chỉ với những thao tác thiết lập rất đơn giản.

10) Tự động định dạng ngày tháng về định dạng chuẩn
Làm kế toán trên excel, chắc hăn các bạn luôn gặp vấn đề về định dạng ngày tháng, vấn đề này được giải quyết trên H2-Account nhanh chóng. Giờ đây, bạn chỉ cần tập trung vào phần dữ liệu mà không cần phải bận tâm đến những ảnh hưởng của việc sai định dạng ngày tháng chuẩn

11) H2-Account Không giới hạn nghiệp vụ, thời gian sử dụng…
Chỉ cần máy tính của bạn đủ khả năng, H2-Account có thể giúp các bạn thao tác với hàng trăm nghìn dòng nhập liệu vì vậy bạn hoàn toàn có thể áp dụng phần mềm cho bất kì công ty nào. Phần mềm cũng không giới hạn số công nợ, hàng hóa, công trình, công cụ dụng cụ, tài sản cố định. Đặc biệt bạn có thể sử dụng H2-Account miễn phí đến trọn đời mà quên đi những suy nghĩ về thời gian sử dụng

12) Tùy chỉnh giao diện màu sắc như ý
Công tác kế toán vốn đã khô khan với những con số, hãy làm mới công việc của bạn mỗi ngày bằng việc lựa chọn một màu sắc may mắn cho bạn, H2-Account hỗ trợ đến 8 màu khác nhau giúp bạn thỏa sức tìm ra được những màu sắc hợp với sở thích và phong thủy nhất ^^
Bạn đã thực sự muốn khám phá chưa ? Không chỉ liên tục được hoàn thiện và phát triển. H2-Account được quản lý và điều hành bởi một nhóm những người yêu thích công việc kế toán trên phạm vi toàn lãnh thổ Việt Nam cũng như có sự cộng tác của các chuyên gia nước ngoài, các kế toán trưởng và các trung tâm đào tạo kế toán.

Giao diện với màu sắc tự chọn
Sức mạnh của phần mềm H2-Account nằm chính ở sức mạnh của cộng đồng. Với hơn 11.000 thành viên, cộng đồng những người sử dụng kế toán excel H2-Account trên Facebook là nơi bạn có thể tham gia thảo luận, trao đổi về mọi vấn đề về công tác kế toán nói chung và phần mềm kế toán miễn phí H2-Account nói riêng.

Chúng tôi xin hứa với tất cả các bạn, sẽ luôn nỗ lực hoàn thiện phần mềm với tấm lòng mang đến cho cộng đồng một phần mềm thực sự chất lượng, miễn phí và là điểm tựa cho các bạn có thể bay cao và bay xa hơn nữa tới những thành công và mong rằng H2-Account sẽ cùng các bạn chinh phục những đỉnh cao nghề nghiệp kế toán !

Trân trọng cảm ơn !
Thay mặt nhóm phát triển: Admin Phạm Huấn

Nguồn : H2-Account

Trailer H2-ACCOUNT
Tải H2-ACCOUNT phiên bản 2.1.4
Hướng dẫn sử dụng H2-ACCOUNT
1 nhận xét
Tags:

03 tháng 5, 2014

Kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm trong doanh nghiệp sản xuất trứng gà thương phẩm


Trong nền kinh tế thị trường, một trong những mục đích của quá trình sản xuất kinh doanh (SXKD) là lợi nhuận tối ưu. Vì vậy, doanh nghiệp (DN) luôn quan tâm đến hoạch toán chi phí sản xuất (CPSX) và tính giá thành sản phẩm (GTSP). CPSX và GTSP là những chỉ tiêu kinh tế quan trọng. Bên cạnh đó, để có thể đứng vững trong cạnh tranh, các DN cần quản lí tốt CPSX, hạ GTSP. Thông tin về CPSX và GTSP do kế toán cung cấp đóng vai trò quan trọng đối với kiểm soát chi phí và trong quá trình ra quyết định quản trị kinh doanh. Trong ngành sản xuất (SX) trứng gà thương phẩm, các DN SXKD trong lĩnh vực này điều mong muốn hoàn thiện hoạch toán CPSX và tính giá thành để cung cấp thông tin chính xác kịp thời cho việc ra quyết định, lập kế hoạch sản xuất cũng như tìm các biện pháp giảm thiểu chi phí SXKD, hạ GTSP làm tăng lợi nhuận cho DN. Hiện nay, vấn đề lí luận cơ bản về kế toán CPSX và tính GTSP trứng gà thương phẩm vẫn chưa được nghiên cứu toàn diện, có hệ thống. Do đó, để thực hiện việc kế toán đầy đủ, kịp thời kế toán CPSX và tính giá thành theo các quy định trong ngành này, kế toán cần phải hiểu rõ về đặc điểm kế toán CPSX và tính GTSP trong các DN SX trứng gà thương phẩm.

Đặc điểm sản xuất trứng có ảnh hưởng đến kế toán CPSX và tính GTSP trứng thương phẩm.

Thứ nhất: Trứng gà thương phẩm được sản xuất tại các trang trại chăn nuôi (gà mẹ đẻ trứng tại trại), sau đó trứng được công nhân thu nhặt chuyển về kho DN, tiếp tục được phân loại và đưa vào tiêu thụ.

Thứ hai: Sản phẩm trứng gà thương phẩm được sử dụng nhiều cho quá trình SX. Trứng gà thương phẩm có thể được sử dụng làm chi phí đầu vào để SX gà giống: Trứng gà từ các trang trại chăn nuôi sẽ chuyển lên phòng lạnh(theo tiêu chuẩn) để bảo quản, được lựa chọn đủ tiêu chuẩn ấp sẽ được chuyển đến nhà máy ấp để SX gà con một ngày tuổi. ngoài ra, còn để chế biến các món ăn trong các DN dịch vụ, nhà hàng…Đặc điểm này của SX trứng gà thương phẩm đòi hỏi kế toán phải vận dụng các phương pháp đánh giá sản phẩm thích hợp, xác định đúng kết quả của quá trình SXKD.

Thứ ba: Đặc điểm tổ chức SX trong các doanh nghiệp SX trứng gà thương phẩm. Tổ chức SX trong các DN SX trứng gà thương phẩm thường theo phương thức khoán gọn theo từng trang trại nuôi gà đẻ trứng. Các trang trại có thể là trang trại của công ty, trang trại hợp đồng.

Đối với trang trại của DN: Do DN đầu tư xây dựng nhà xưởng, văn phòng, mua sắm tài sản cố định, đầu tư gà giống (gà mẹ), thức ăn chăn nuôi, thuốc thú y, có kỹ sư và công nhân trực tiếp nuôi gà, SX trứng tại trang trại.

Đối với trại hợp đồng: Là thuê trại bên ngoài, chủ trang trại đầu tư đất đai, nhà xưởng, tài sản cố định, nhân công… Doanh nghiệp nghiệp cung cấp gà giống (gà mẹ), thức ăn chăn nuôi, thuốc thú y, kỹ sư phụ trách kỹ thuật. Doanh nghiệp căn cứ vào số lượng trứng thu nhận trong tháng để trả công cho chủ trang trại theo đơn giá hiện nay là khoảng 550đ/quả.

Thứ 4: Sản phẩm trứng được SX ra có nhiều loại, ngoài các loại trứng tốt còn có các loại trứng như trứng móp, trứng trắng, trứng vỡ…

Thứ 5: Đối với trứng thương phẩm loại tốt được sử dụng để chế biến cac món ăn, được chia thành 10 loại dựa vào trọng lượng quả trứng như : Loại 1 – từ 71,0g trở lên, loại 2 – Từ 67,7g đến dưới 71,0g, loại 3 từ 64,3 đến dưới 67,7g… Đặc điểm này đòi hỏi kế toán cần tính giá thành chính xác từng loại trứng để phục vụ cho mục đích quản trị doanh nghiệp.

Đặc điểm kế toán áp dụng trong các DN SX trứng gà thương phẩm.
Các DN này đang áp dụng chế độ kế toán thống nhất ban hành theo quyết định 15/2006/QĐ-BTC do Bộ trưởng bộ tài chính ban hành ngày 20/3/2006, thông tư số 244/2009/TT-BTC. Bên cạnh đó, các DN có quy mô nhỏ và vừa áp dụng chế độ kế toán DNNVV ban hành theo Quyết định 48/2006/QĐ-BTC ngày 14/9/2006 và Thông tư số 138/2011/TT-BTC.

Đối tượng và phương pháp kế toán CPSX trong các DN SX trứng gà thương phẩm.
Việc xác định đối tượng kế toán CPSX mà thực chất là xác định giới hạn tập hợp chi phí trong các DN này phụ thuộc vào đặc điểm tổ chức sản xuất, nhiệm vụ SX, yêu cầu quản lí, trình độ nghiệp vụ của cán bộ kế toán… Vì vậy, đối tượng kế toán chi phí trong các DN SX trứng gà thương phẩm có thể là từng nơi phát sinh chi phí(từng trang trại nuôi gà đẻ trứng).

Đối tượng và phương pháp tính giá thành trong các DN SX trứng gà thương phẩm.
Đối tượng tính GTSP có thể là giá thành của một quả trứng hoặc 100 quả trứng.
Sản phẩm phụ của ngành này là phân, lông…

Phương pháp tính giá thành như: Phương pháp trực tiếp, phương pháp hệ số…
Công thức tính giá thành một quả trứng hay 100 quả trứng (Z) cụ thể như sau:
 

Thời điểm và kỳ hạn tính giá thành trong các doanh nghiệp SX trứng gà thương phẩm.
Trứng gà được sản xuất ra tháng nào thì tính GTSP của tháng đó. Vì thế, những chi phí chi ra trong tháng này nhưng tháng sau mới cho sản phẩm thì toàn bộ chi phí trong tháng này được coi là CPSX dở dang cuối kỳ, chuyển kỳ sau:

Nội dung các khoản mục CPSX trong các DN SX trứng gà thương phẩm
Trong các DN SX trứng gà thương phẩm CPSX cũng bao gồm ba khoản mục đó là: chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp và CPSX chung.

Nội dung chi phí trong từng khoản mục như sau:

- Khoản mục “ chi phí nguyên vật liệu trực tiếp”
Khoản mục này gồm chi phí về thức ăn, gồm các loại thức ăn tinh, thô…(thức ăn chăn nuôi cho gà đẻ trứng-feed expense…), chi phí nguyên vật liệu trực tiếp chiếm khoảng 70%-78% tổng CPSX.

- Khoản mục “chi phí nhân công trực tiếp”
Chi phí nhân công trực tiếp gồm: Lương chính, lương phụ của công nhân trực tiếp SX và các khoản phụ cấp có tính chất tiền lương cùng với các khoản trích theo lương. Chi phí nhân công trực tiếp chiếm khoảng 8.5% tổng CPSX.

- Khoản mục CPSX chung bao gồm các chi phí quản lí và phục vụ SX có tính chất chung ở các trại chăn nuôi như: Chi phí khấu hao giống gà đẻ trứng, chi phí về thuốc thú y, chi phí khấu hao chuồng trại, chi phí vận chuyển, chi phí khác… Chi phí SX chung chiếm tỷ trọng khoảng 14% - 22.5% tổng CPSX.

Đặc điểm kế toán CPSX trong các DN SX trứng gà thương phẩm áp dụng phương pháp kê khai thường xuyên
Tài khoản sử dụng
+ TK 154 – “Chi phí SXKD dở dang”
+ TK 621 – “Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp”
+ TK 622 – “Chi phí nhân công trực tiếp”
+ TK 627 – “Chi phí SX chung”

Phương pháp hạch toán



Ngành sản xuất trứng gà thương phẩm là một trong những ngành sản xuất nông nghiệp có quy trình sản xuất và đối tượng sản xuất rất đa dạng… Kế toán CPSX và tính GTSP có ý nghĩa vô cùng to lớn không chỉ với các DN ở tầm vi mô mà cả tầm quản lý vĩ mô là nhà nước. Trên thực tế nhiều giảng viên, học viên ngành kế toán doanh nghiệp và các nhân viên kế toán chỉ được biết đến nhiều về đặc điểm kế toán CPSX và GTSP trong các DN SX công nghiệp nói chung. Do vậy bài viết này muốn đề cập chi tiết về đặc điểm kế toán CPSX và tính GTSP trong doanh nghiệp sản xuất trứng gà thương phẩm.

Th.S Đỗ Đức Tài
Khoa Kế toán – Đại học Lao động Xã Hội
Trích Tạp chí Kế toán & Kiểm toán số 11/2013 (122)
Không có nhận xét nào
Tags:

04 tháng 4, 2014

Các khoản trích lập dự phòng cần phải lưu ý

Các khoản trích lập dự phòng chính có tác động đáng kể đến kết quả sản xuất – kinh doanh của doanh nghiệp (DN) mà các nhà đầu tư cần nắm bắt được bản chất trong quá trình xem xét báo cái tài chính (BCTC) của doanh nghiệp đó là:

(Ảnh minh họa)


Khoản trích lập dự phòng giảm giá hàng tồn kho, trích lập dự phòng giảm giá các khoản đầu tư tài chính, các khoản trích lập dự phòng nợ phải thu khó đòi và dự phòng các khoản bảo hành sản phẩm, hàng hoá, công trình xây lắp (đối với các DN xây lắp).

Bản chất của các khoản trích lập dự phòng :
Nói tóm lại, một khoản dự phòng là khoản nợ phải trả không chắc chắn về giá trị hoặc thời gian. Việc trích lập dự phòng được hiểu là việc ghi nhận vào chi phí của DN các chênh lệch nhỏ hơn của giá trị tài sản của DN tại thời điểm lập BCTC và giá trị của các tài sản này tại thời điểm mua, hoặc ghi nhận một khoản dự phòng tương ứng với các khoản nợ phải trả (trên cơ sở đưa ra một ước tính đáng tin cậy), vì nó là các nghĩa vụ về nợ phải trả hiện tại và chắc chắn sẽ làm giảm sút các lợi ích kinh tế để thanh toán các nghĩa vụ về khoản nợ phải trả đó. Trong đó:

Dự phòng giảm giá hàng tồn kho: là dự phòng phần giá trị bị tổn thất do giá vật tư, thành phẩm, hàng hóa tồn kho bị giảm (Thông tư 13/2006/TT-BTC hướng dẫn chế độ trích lập và sử dụng các khoản dự phòng…).

Số dự phòng giảm giá hàng tồn kho được lập là số chênh lệch giữa giá gốc của hàng tồn kho lớn hơn giá trị thuần có thể thực hiện của chúng (Chuẩn mực Kế toán Việt Nam số 02 – Hàng tồn kho).

Thuật ngữ: giá gốc hàng tồn kho được hiểu là giá trị của hàng tồn kho được ghi nhận tại thời điểm mua căn cứ trên giá hóa đơn và các chi phí khác có liên quan trực tiếp đến quá trình mua hàng và sản xuất để có được hàng tồn kho ở địa điểm và trạng thái sẵn sàng sử dụng hoặc tiêu thụ như: chi phí gia công, chế biến, chi phí vận chuyển, lưu kho, bãi…

Thuật ngữ giá trị thuần có thể thực hiện được của hàng tồn kho được hiểu là giá trị còn lại của giá bán hàng tồn kho sau khi trừ đi các chi phí ước tính cho việc hoàn thành và tiêu thụ sản phẩm tại thời điểm lập báo cáo tài chính.

Trích lập dự phòng giảm giá đầu tư tài chính: là dự phòng phần giá trị bị tổn thất do các loại chứng khoán đầu tư của DN bị giảm giá, giá trị các khoản đầu tư tài chính bị tổn thất do tổ chức kinh tế mà DN đang đầu tư bị lỗ (Thông tư 13/2006/TT-BTC);

Dự phòng nợ phải thu khó đòi: là dự phòng phần giá trị bị tổn thất của các khoản nợ phải thu quá hạn thanh toán, nợ phải thu chưa quá hạn nhưng có thể không đòi được do khách nợ không có khả năng thanh toán (Thông tư 13/2006/TT-BTC);

Dự phòng bảo hành sản phẩm, hàng hoá, công trình xây lắp: là dự phòng chi phí cho những sản phẩm, hàng hoá, công trình xây lắp đã bán, đã bàn giao cho người mua nhưng DN vẫn có nghĩa vụ phải tiếp tục sửa chữa, hoàn thiện theo hợp đồng hoặc cam kết với khách hàng (Thông tư 13/2006/TT-BTC).

Nguyên tắc trích lập :
Theo Chuẩn mực Kế toán Việt Nam số 18 – “Các khoản dự phòng, tài sản và nợ tiềm tàng”, một khoản dự phòng chỉ được phép trích lập khi thỏa mãn đủ các điều kiện sau:

DN có nghĩa vụ nợ hiện tại (nghĩa vụ pháp lý hoặc nghĩa vụ liên đới) do kết quả từ một sự kiện đã xảy ra.

Sự giảm sút về những lợi ích kinh tế có thể xảy ra dẫn đến việc yêu cầu phải thanh toán nghĩa vụ nợ.
Đưa ra được một ước tính đáng tin cậy về giá trị của nghĩa vụ nợ đó.

Sự kiện đã xảy ra :
Một sự kiện đã xảy ra làm phát sinh nghĩa vụ nợ hiện tại được gọi là một sự kiện ràng buộc. Một sự kiện trở thành sự kiện ràng buộc nếu DN không có sự lựa chọn nào khác ngoài việc thanh toán nghĩa vụ nợ gây ra bởi sự kiện đó.

Điều này chỉ xảy ra:
a) khi việc thanh toán nghĩa vụ nợ này do pháp luật bắt buộc.
b) khi có nghĩa vụ nợ liên đới, khi sự kiện này (có thể là một hoạt động của DN) dẫn đến có ước tính đáng tin cậy để bên thứ ba chắc chắn là DN sẽ thanh toán khoản nợ phải trả đó.
Bản chất báo cáo tài chính (BCTC) của DN là nhằm phản ánh tình hình tài chính của DN tại một thời điểm và một thời kỳ xảy ra trước đó, vì vậy các khoản dự phòng không nhằm phản ánh các khoản chi phí cần thiết cho hoạt động của DN trong tương lai, mà chỉ có liên quan tới các sự kiện xảy ra độc lập trong quá khứ, nhưng có ảnh hưởng tới lợi ích kinh tế của DN trong tương lai thông qua một nghĩa vụ nợ phát sinh.

Ví dụ: DN thực hiện trích lập dự phòng cho một khoản phải trả do bị phạt vi phạm pháp luật về môi trường. Khoản bị phạt này là do các hoạt động kinh doanh đã diễn ra trước đó của DN, nhưng có ảnh hưởng tới lợi ích kinh tế của DN trong tương lai, chứ không phải là các khoản bị phạt do hoạt động của DN trong tương lai.

Sự giảm sút lợi ích kinh tế có thể xảy ra :
Điều kiện ghi nhận một khoản nợ là khoản nợ đó phải là khoản nợ hiện tại và có khả năng làm giảm sút lợi ích kinh tế do việc thanh toán khoản nợ đó.

Việc ghi nhận một khoản trích lập dự phòng (khoản nợ) phải đi kèm với điều kiện phát sinh các tác động tới lợi ích kinh tế của DN trong tương lai thông qua việc thanh toán nghĩa vụ nợ đó (trong ví dụ nêu trên chính là việc thanh toán cho khoản tiền nộp phạt).

Tuy nhiên, không nhất thiết DN phải xác định cụ thể đối tác được hưởng quyền lợi từ nghĩa vụ nợ của DN (với ví dụ trên, DN có thể sẽ phải chi trả khoản chi phí khắc phục các ảnh hưởng đến môi trường và người hưởng lợi là cộng đồng nói chung).

Ước tính đáng tin cậy về nghĩa vụ nợ phải trả :
Các khoản trích lập dự phòng về bản chất đều xây dựng trên cơ sở ước tính, đây là cơ sở quan trọng, nhưng nó không làm mất đi độ tin cậy của các số liệu trên BCTC nếu DN đưa ra được các căn cứ tin cậy cho công việc ước tính các khoản trích lập (các khoản nợ). Đây cũng là yêu cầu bắt buộc với DN khi trình bày các khoản trích lập dự phòng trên BCTC.

Trong trường hợp DN thiếu các cơ sở tin cậy để ước tính nghĩa vụ nợ cho việc trích lập dự phòng, DN sẽ ghi nhận khoản nợ ước tính này như một khoản “nợ tiềm tàng” trên BCTC (đây là thuật ngữ chỉ các khoản nợ mà DN có thể ước tính được, nhưng khả năng phát sinh là chưa chắc chắn, vì vậy DN phải trình bày riêng biệt theo các tiêu chí được quy định cụ thể trong Chuẩn mực kế toán Việt Nam số 18).

Phương pháp trích lập dự phòng giảm giá hàng tồn kho :
Đối tượng: Theo Thông tư số 13/2006/TT-BTC về việc hướng dẫn chế độ trích lập và sử dụng các khoản dự phòng, việc trích lập dự phòng giảm giá hàng tồn kho được lập cho nguyên vật liệu, dụng cụ dùng cho sản xuất, vật tư, hàng hóa, thành phẩm tồn kho (gồm cả hàng tồn kho bị hư hỏng, kém, mất phẩm chất, lạc hậu mốt, lạc hậu kỹ thuật, lỗi thời, ứ đọng, chậm luân chuyển), sản phẩm dở dang, chi phí dịch vụ dở dang.

Việc trích lập được thực hiện khi giá gốc ghi trên sổ kế toán cao hơn giá trị thuần có thể thực hiện được và phải đảm bảo: có hóa đơn, chứng từ hợp pháp theo quy định của Bộ Tài chính hoặc các bằng chứng khác chứng minh giá vốn hàng tồn kho; là những vật tư hàng hóa thuộc quyền sở hữu của DN tồn kho tại thời điểm lập báo cáo tài chính (BCTC) (trong trường hợp nguyên vật liệu sử dụng làm nguyên liệu chính sản xuất sản phẩm, có giá trị thuần có thể thực hiện được thấp hơn so với giá gốc nhưng giá bán sản phẩm, dịch vụ được sản xuất từ nguyên vật liệu này không bị giảm giá thì DN cũng không được trích lập dự phòng).

Phương pháp trích lập: mức dự phòng giảm giá hàng tồn kho cần trích lập được tính bằng cách lấy khối lượng hàng tồn kho tại thời điểm lập BCTC nhân (x) với giá gốc hàng tồn kho theo sổ kế toán, sau đó trừ (-) giá trị thuần có thể thực hiện được của hàng tồn kho.

Ví dụ: tại ngày 31/12, DN có 100 tấn sản phẩm A tồn kho, giá gốc của sản phẩm này (bao gồm các chi phí trực tiếp và chi phí sản xuất chế biến khác để hoàn thành sản phẩm) là 100 đồng. Cũng tại thời điểm này, giá thành của sản phẩm A trên thị trường là 80 đồng/tấn.

Giả định các chi phí liên quan khác ước tính để tiêu thụ sản phẩm là 10 đồng/tấn, nghĩa là giá trị thuần có thể thực hiện được của một đơn vị sản phẩm A là 70 đồng/tấn (80 – 10), khi đó DN cần phải trích lập một khoản dự phòng giảm giá hàng tồn kho là: 100 tấn x (100 đồng – 70 đồng ) = 3.000 đồng.

Lưu ý: giá trị của khoản trích lập dự phòng giảm giá hàng tồn kho này sẽ được DN hạch toán vào một tài khoản treo có số dư âm trên bảng cân đối kế toán và hạch toán tăng khoản mục giá vốn hàng bán trong kỳ; DN phải trình bày được cơ sở để xác định các khoản mục giá gốc hàng tồn kho, giá trị thuần có thể thực hiện được của hàng tồn kho trên bản thuyết minh BCTC; DN niêm yết bắt buộc phải công bố thông tin tài chính định kỳ sẽ phải thực hiện trích lập dự phòng giảm giá hàng tồn kho nếu tại thời điểm lập BCTC, giá gốc của hàng tồn kho của DN thấp hơn giá trị thuần có thể thực hiện được.

Xử lý khoản dự phòng giảm giá hàng tồn kho vào thời điểm lập BCTC: tại mỗi thời điểm lập BCTC, DN phải xem xét số dư khoản dự phòng giảm giá hàng tồn kho đã trích lập và số dư khoản dự phòng giảm giá hàng tồn kho cần trích lập: nếu số dự phòng giảm giá phải trích lập bằng số dư khoản dự phòng giảm giá hàng tồn kho, thì DN không phải trích lập khoản dự phòng giảm giá hàng tồn kho; nếu số dự phòng giảm giá phải trích lập cao hơn số dư khoản dự phòng giảm giá hàng tồn kho, thì DN trích thêm vào khoản mục giá vốn hàng bán của DN phần chênh lệch; nếu số dự phòng phải trích lập thấp hơn số dư khoản dự phòng giảm giá hàng tồn kho, thì doanh nghiệp phải hoàn nhập phần chênh lệch vào khoản mục thu nhập khác.
1 nhận xét
Tags:

04 tháng 3, 2014

Ký tên trên hóa đơn, chứng từ kế toán


Căn cứ khoản 1 Điều 20 Chương II Mục I Luật Kế toán:

“Chứng từ kế toán phải có đủ chữ ký. Chữ ký trên chứng từ kế toán phải được ký bằng bút mực. Không được ký chứng từ kế toán bắng mực đỏ hoặc đóng dấu chữ ký sẵn. Chữ ký trên chứng từ kế toán của một người phải thống nhất.”

Tại điểm 4, Mục I và phần thứ ba chế độ chứng từ kế toán Doanh nghiệp ban hành kèm theo Quyết định số 15/2006/QĐ-BTC ngày 20/03/2006 của Bộ trưởng Bộ Tài chính về việc ban hành Chế độ kế toán doanh nghiệp có quy định:

“… Tất cả các chữ ký trên chứng từ kế toán đều phải ký bằng bút bi hoặc bút mực, không được ký bằng mực đỏ, bằng bút chì, chữ ký trên chứng từ kế toán dùng để chi tiền phải ký theo từng liên…”

Tại điểm 8, Mục I và phần thứ tư chế độ chứng từ kế toán doanh nghiệp vừa và nhỏ ban hành theo Quyết định số 48/2006/QĐ-BTC ngày 19/06/2006 của bộ trưởng Bộ Tài chính về ban hàng Chế độ kế toán doanh nghiệp vừa và nhỏ có quy định:

“...Tất cả các chữ ký trên chứng từ kế toán đều phải  ký bằng bút bi hoặc bút mực, không được ký bằng mực đỏ, bằng bút chì, chữ ký trên chứng từ kế toán dùng để chi tiền phải ký theo từng liên.

Căn cứ quy định trên thì hoá đơn bán hàng là chứng từ kế toán nhưng không thuộc loại chứng từ chi tiền do đó không bắt buộc phải ký theo từng liên. Do đó có thể ký trên liên 1 và in sang liên 2, 3 bằng giấy cacbon (giấy than), không được dùng chữ ký in sẵn trên con dấu để ký trên liên 2 hoá đơn.
Không có nhận xét nào
Tags:

05 tháng 10, 2013

Quy định mới về trích khấu hao tài sản cố định


Ngày 25/4/2013, Bộ Tài chính ban hành Thông tư số 45/2013/TT-BTC hướng dẫn chế độ quản lý, sử dụng và trích khấu hao tài sản cố định (TSCĐ), thay thế Thông tư số 203/2009/TT-BTC ngày 20/10/2009. Điểm nhấn căn bản của Thông tư này thu hút sự quan tâm của các doanh nghiệp là tất cả TSCĐ của doanh nghiệp đều phải trích khấu hao. Thông tư có hiệu lực thi hành kể từ ngày 10/6/2013 và áp dụng từ năm tài chính 2013.


Tải các văn bản có trong bài viết:
 
Yêu cầu từ thực tiễn

Từ khi có Thông tư số 203/2009/TT-BTC ngày 20/10/2009, công tác quản lý TSCĐ, đã mang lại nhiều kết quả tích cực, từng bước đưa doanh nghiệp (DN) đi vào nề nếp, tuân thủ đúng các quy định của Nhà nước về sử dụng và trích khấu hao TSCĐ do DN quản lý.

Tuy nhiên, trong quản lý, sử dụng và trích khấu hao TSCĐ vẫn cần có những thay đổi để phù hợp với thực tiễn hiện nay. Ngày 25/4/2013, Bộ Tài chính đã ban hành Thông tư số 45/2013/TT-BTC hướng dẫn chế độ quản lý, sử dụng và trích khấu TSCĐ thay thế Thông tư số 203/2009/TT-BTC.

Để thực hiện đúng các quy định của Nhà nước về việc quản lý, sử dụng và trích khấu hao TSCĐ tại các DN, yêu cầu đặt ra đối với người quản lý DN nói chung và người làm công tác kế toán nói riêng, ngoài việc nắm vững các quy định hướng dẫn cần hiểu rõ bản chất của các loại tài sản, đặc biệt là TSCĐ.

TSCĐ là tư liệu lao động tham gia vào nhiều chu kỳ sản xuất, kinh doanh của DN; là những tài sản có giá trị lớn, tham gia quá trình sản xuất, kinh doanh và đã chuyển dần giá trị tài sản vào giá thành sản phẩm. Do đó, DN phải thực hiện trích khấu hao TSCĐ để thu hồi vốn và tái tạo TSCĐ mới phục vụ cho kỳ sản xuất, kinh doanh tiếp theo.

Tiêu chuẩn, nhận biết TSCĐ hữu hình là những tài sản có kết cấu độc lập hoặc là một hệ thống gồm nhiều bộ phận tài sản riêng lẻ liên kết với nhau để cùng thực hiện một hay một số chức năng nhất định, nếu thiếu bất kỳ bộ phận nào thì cả hệ thống không thể hoạt động được.

Tài sản đó phải thỏa mãn 3 tiêu chuẩn: Chắc chắn thu được lợi ích kinh tế trong tương lai từ việc sử dụng tài sản đó; có thời gian sử dụng hơn 1 năm trở lên; nguyên giá tài sản phải được xác định một cách tin cậy và có giá trị từ 30 triệu đồng trở lên.

Trường hợp 1 hệ thống gồm nhiều bộ phận tài sản riêng lẻ liên kết nhau, trong đó mỗi bộ phận cấu thành có thời gian sử dụng khác nhau và nếu thiếu 1 bộ phận nào đó mà cả hệ thống vẫn thực hiện chức năng hoạt động chính, nhưng do yêu cầu quản lý, sử dụng TSCĐ đòi hỏi phải quản lý riêng từng bộ phận tài sản thì mỗi bộ phận nếu thỏa mãn 3 tiêu chuẩn nêu trên được coi là một TSCĐ hữu hình độc lập. Đối với súc vật làm việc hoặc cho sản phẩm, vườn cây lâu năm thì từng con súc vật, mảnh vườn cây, hoặc cây thỏa mãn đồng thời 3 tiêu chuẩn của TSCĐ được coi là một TSCĐ hữu hình.

Tiêu chuẩn, nhận biết TSCĐ vô hình là mọi khoản chi phí thực tế DN đã chi ra, thỏa mãn đồng thời 3 tiêu chuẩn TSCĐ mà không hình thành TSCĐ hữu hình được coi là TSCĐ vô hình. Những khoản chi phí không đồng thời thỏa mãn 3 tiêu chuẩn trên thì được hạch toán trực tiếp hoặc được phân bổ dần vào chi phí kinh doanh của DN.

Riêng các chi phí phát sinh trong giai đoạn triển khai được ghi nhận là TSCĐ vô hình nếu thỏa mãn đồng thời 7 điều kiện: Tính khả thi về mặt kỹ thuật đảm bảo việc hoàn thành và đưa tài sản vô hình vào sử dụng theo dự tính hoặc để bán; DN dự định hoàn thành tài sản vô hình để sử dụng hoặc để bán; DN có khả năng sử dụng hoặc bán tài sản vô hình đó; tài sản vô hình đó phải tạo ra được lợi ích kinh tế trong tương lai; có đầy đủ các nguồn lực về kỹ thuật, tài chính và nguồn lực khác để hoàn tất cả các giai đoạn triển khai, bán hoặc sử dụng tài sản vô hình đó; có khả năng xác định một cách chắc chắn toàn bộ chi phí trong giai đoạn triển khai để tạo ra tài sản vô hình đó; ước tính có đủ tiêu chuẩn về thời gian sử dụng và giá trị theo quy định cho TSCĐ vô hình.

Một số điểm nhấn cần chú ý

Căn cứ mục đích sử dụng, DN tiến hành phân loại TSCĐ theo các chỉ tiêu sau: TSCĐ dùng cho mục đích kinh doanh; TSCĐ dùng cho mục đích phúc lợi, sự nghiệp, an ninh, quốc phòng; TSCĐ bảo quản hộ, giữ hộ, cất giữ hộ. Tuỳ theo yêu cầu quản lý của từng DN, DN tự phân loại chi tiết hơn các TSCĐ của DN trong từng nhóm cho phù hợp.

Về nguyên tắc, mọi TSCĐ trong DN phải có bộ hồ sơ riêng (gồm biên bản giao nhận, hợp đồng, hoá đơn mua và các chứng từ, giấy tờ khác có liên quan). Mỗi TSCĐ phải được phân loại, đánh số và có thẻ riêng, được theo dõi chi tiết theo từng đối tượng ghi TSCĐ và được phản ánh trong sổ theo dõi. Mỗi TSCĐ phải được quản lý theo nguyên giá, số hao mòn luỹ kế và giá trị còn lại trên sổ sách kế toán:

Giá trị còn lại trên sổ kế toán của TSCĐ = Nguyên giá của TSCĐ - Số hao mòn luỹ kế của TSCĐ

Đối với những TSCĐ không cần dùng, chờ thanh lý nhưng chưa hết khấu hao, DN phải thực hiện quản lý, theo dõi, bảo quản theo quy định hiện hành và trích khấu hao theo quy định tại Thông tư này.

Các chi phí DN chi ra để đầu tư nâng cấp TSCĐ được phản ánh tăng nguyên giá của TSCĐ đó, không được hạch toán các chi phí này vào chi phí sản xuất kinh doanh trong kỳ. Các chi phí sửa chữa TSCĐ không được tính tăng nguyên giá TSCĐ mà được hạch toán trực tiếp hoặc phân bổ dần vào chi phí kinh doanh trong kỳ, nhưng tối đa không quá 3 năm.

Khấu hao TSCĐ là việc tính toán và phân bổ một cách có hệ thống nguyên giá của TSCĐ vào chi phí sản xuất, kinh doanh trong thời gian trích khấu hao của TSCĐ. Tất cả TSCĐ hiện có của DN đều phải trích khấu hao, trừ một số TSCĐ quy định tại khoản 1 Điều 9 của Thông tư này. Các khoản chi phí khấu hao TSCĐ được tính vào chi phí hợp lý khi tính thuế thu nhập DN thực hiện theo quy định tại các văn bản pháp luật về thuế thu nhập DN. DN cho thuê TSCĐ hoạt động phải trích khấu hao đối với TSCĐ cho thuê.

Trường hợp đánh giá lại giá trị TSCĐ đã hết khấu hao để góp vốn, điều chuyển khi chia tách, hợp nhất, sáp nhập thì các TSCĐ này phải được các tổ chức định giá chuyên nghiệp xác định giá trị nhưng không thấp hơn 20% nguyên giá tài sản đó. Thời điểm trích khấu hao đối với những tài sản này là thời điểm DN chính thức nhận bàn giao đưa tài sản vào sử dụng và thời gian trích khấu hao từ 3 đến 5 năm. Thời gian cụ thể do DN quyết định nhưng phải thông báo với cơ quan thuế trước khi thực hiện.

Đối với các DN thực hiện cổ phần hóa, thời điểm trích khấu hao của các TSCĐ nói trên là thời điểm DN được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh chuyển thành công ty cổ phần.

Các DN 100% vốn nhà nước thực hiện xác định giá trị DN để cổ phần hoá theo phương pháp dòng tiền chiết khấu (DCF) thì phần chênh lệch tăng của vốn nhà nước giữa giá trị thực tế và giá trị ghi trên sổ sách kế toán không được ghi nhận là TSCĐ vô hình và được phân bổ dần vào chi phí sản xuất kinh doanh trong kỳ nhưng thời gian không quá 10 năm. Thời điểm bắt đầu phân bổ vào chi phí là thời điểm DN chính thức chuyển thành công ty cổ phần (có giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh).
Mọi hoạt động cho thuê, cầm cố, thế chấp, nhượng bán, thanh lý TSCĐ phải theo đúng các quy định của pháp luật hiện hành; DN phải thực hiện việc quản lý đối với những TSCĐ đã khấu hao hết nhưng vẫn tham gia vào hoạt động kinh doanh như những TSCĐ thông thường.

Thời gian trích khấu hao của TSCĐ căn cứ vào giá trị, giá bán của TSCĐ cùng loại mới 100% (hoặc của tài sản tương đương) và thời gian trích khấu hao ban hành tại Phụ lục của Thông tư.

DN chỉ được thay đổi thời gian trích khấu hao TSCĐ một lần đối với một tài sản. Việc kéo dài thời gian trích khấu hao của TSCĐ bảo đảm không vượt quá tuổi thọ kỹ thuật của TSCĐ và không làm thay đổi kết quả kinh doanh của DN từ lãi thành lỗ hoặc ngược lại tại năm quyết định thay đổi. DN tự xác định thời gian trích khấu hao của TSCĐ vô hình nhưng tối đa không quá 20 năm.

Bộ Tài chính cũng quy định 3 phương pháp trích khấu hao TSCĐ:
i)                    Phương pháp khấu hao đường thẳng;
ii)                  Phương pháp khấu hao theo số dư giảm dần có điều chỉnh; và
iii)              Phương pháp khấu hao theo số lượng, khối lượng sản phẩm. Trên cơ sở đó, DN tự quyết định phương pháp trích khấu hao, thời gian trích khấu hao TSCĐ theo quy định tại Thông tư này và thông báo với cơ quan thuế trực tiếp quản lý trước khi bắt đầu thực hiện.

Phương pháp trích khấu hao áp dụng cho từng TSCĐ mà DN đã lựa chọn và thông báo cho cơ quan thuế trực tiếp quản lý phải được thực hiện nhất quán trong suốt quá trình sử dụng TSCĐ. Trường hợp đặc biệt cần thay đổi phương pháp trích khấu hao, DN phải giải trình rõ sự thay đổi về cách thức sử dụng TSCĐ để đem lại lợi ích kinh tế cho DN. Mỗi TSCĐ chỉ được phép thay đổi một lần phương pháp trích khấu hao trong quá trình sử dụng và phải thông báo bằng văn bản cho cơ quan thuế quản lý trực tiếp.

Như vậy, về cơ bản, Thông tư số 45/2013/TT-BTC mang tính kế thừa Thông tư số 203/2009/TT-BTC ngày 20/10/2009 áp dụng cho kỳ tính thuế năm 2012 trở về trước. Tuy nhiên, Thông tư số 45/2013/ TT-BTC đã tạo ra một số điểm nhấn khác biệt sau:

+ Về giá trị của tài sản, Thông tư 45/2013/TT-BTC được xác định từ 30 triệu đồng trở lên. Đối với tài sản là “Quyền sử dụng đất thuê” trước ngày có hiệu lực của Luật Đất đai năm 2003 (ngày 1/7/2004) đã trả tiền thuê đất cho cả thời gian thuê hoặc đã trả trước tiền thuê đất cho nhiều năm mà thời hạn thuê đất đã được trả tiền còn lại ít nhất 5 năm, được cơ quan có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì được ghi nhận là TSCĐ vô hình.

+ Kể từ năm tính thuế 2013, quyền sử dụng đất lâu dài không được trích khấu hao và phân bổ vào chi phí được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế. Quyền sử dụng đất có thời hạn nếu có đủ hóa đơn chứng từ và thực hiện đúng các thủ tục theo quy định, có tham gia vào hoạt động sản xuất kinh doanh thì được phân bổ dần vào chi phí được trừ theo thời hạn được phép sử dụng đất ghi trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; trừ trường hợp quyền sử dụng đất giao thu tiền có thời hạn được trích khấu hao để tính vào chi phí hợp lý khi tính thuế thu nhập DN.

+ Chi phí thành lập DN, đào tạo nhân viên, quảng cáo phát sinh trước khi thành lập DN; chi phí cho giai đoạn nghiên cứu, chuyển dịch địa điểm, chi phí mua để có và sử dụng các tài liệu kỹ thuật, bằng sáng chế, giấy phép chuyển giao công nghệ, nhãn hiệu thương mại, lợi thế kinh doanh không phải là TSCĐ vô hình được phân bổ dần vào chi phí kinh doanh của DN trong thời gian tối đa không quá 3 năm. Trường hợp công ty cổ phần được chuyển đổi từ DN 100% vốn Nhà nước phải thực hiện phân bổ giá trị lợi thế kinh doanh theo quy định tại Thông tư số 138/2012/TT-BTC ban hành ngày 20/8/2012.

+ DN tự quyết định phương pháp trích khấu hao, thời gian trích khấu hao TSCĐ theo quy định tại Thông tư số 45/2013/TT-BTC và thông báo cho cơ quan thuế trực tiếp quản lý trước khi bắt đầu thực hiện. Phương pháp trích khấu hao áp dụng cho từng TSCĐ phải được thực hiện trong suốt quá trình sử dụng TSCĐ. Trường hợp thay đổi phương pháp trích khấu hao, DN phải giải trình về cách thức sử dụng TSCĐ để đem lại lợi ích kinh tế cho DN và chỉ được phép thay đổi một lần. DN phải thông báo bằng văn bản cho cơ quan thuế quản lý trực tiếp trước khi thay đổi.

Ngoài ra, đối với các công trình xây dựng cơ bản hoàn thành đưa vào sử dụng, DN đã hạch toán tăng TSCĐ theo giá tạm tính do chưa thực hiện quyết toán. Khi quyết toán công trình xây dựng cơ bản hoàn thành có sự chênh lệch giữa giá trị tạm tính và giá trị quyết toán, DN phải điều chỉnh lại nguyên giá TSCĐ theo giá trị quyết toán đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt. DN không phải điều chỉnh lại mức chi phí khấu hao đã trích kể từ thời điểm TSCĐ hoàn thành, bàn giao đưa vào sử dụng đến thời điểm quyết toán được phê duyệt. Chi phí khấu hao sau thời điểm quyết toán được xác định trên cơ sở lấy giá trị quyết toán TSCĐ được phê duyệt trừ (-) số đã trích khấu hao đến thời điểm phê duyệt quyết toán TSCĐ chia (:) thời gian trích khấu hao còn lại của TSCĐ theo quy định.

Đây là nội dung hoàn toàn mới trong quản trị chi phí DN. Trước đây, do Thông tư số 203/2009/ TT-BTC không nêu rõ nên sau khi công trình xây dựng cơ bản được cấp có thẩm quyền phê duyệt quyết toán, DN phải điều chỉnh lại chi phí khấu hao đã trích kể từ thời điểm TSCĐ hoàn thành, bàn giao đưa vào sử dụng đến thời điểm quyết toán được phê duyệt.

Những nội dung sửa đổi và bổ sung nêu trên chắc chắn sẽ ảnh hưởng không nhỏ đến công tác quản trị chi phí và hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của các DN từ năm 2013. Do đó, trong thời gian sắp tới các DN cần chủ động điều chỉnh quy định về quản lý TSCĐ trong đơn vị mình, đồng thời bổ sung, nâng cấp phầm mềm phân hệ kế toán TSCĐ cho phù hợp với Thông tư số 45/2013/TT-BTC của Bộ Tài chính.

Bài đăng trên Tạp chí Tài chính số 6 – 2013

Không có nhận xét nào
Tags: